SieuNem.comSiêu Nệm
Các loại nệm và cấu tạo

Nệm dày bao nhiêu là đủ: độ dày theo từng loại nệm và từng người

Độ dày nệm nên đọc theo loại vật liệu, cân nặng và chiều cao giường chứ không phải càng dày càng tốt. Khoảng độ dày thường gặp, cách thử và lỗi hay mắc.

A tape measure held by two hands against the side of a mattress on a bed frame, wooden floor and white linen visible, soft morning light, close-up from a low angle

Không có một độ dày đúng cho mọi tấm nệm. Độ dày đủ phụ thuộc trước hết vào loại vật liệu: nệm bông ép hay cao su đặc đỡ tốt ở độ dày mỏng hơn, còn nệm lò xo cần dày hơn vì phải chứa cả lõi lò xo lẫn lớp tiện nghi. Khoảng thường gặp là nệm bông ép khoảng 5 đến 10 cm, nệm cao su và foam khoảng 10 đến 20 cm, nệm lò xo và hybrid khoảng 20 đến 35 cm.

Bên trong khoảng đó, người nặng cân, người nằm nghiêng và người dùng làm nệm chính hằng đêm nên chọn nghiêng về phía dày hơn; người nhẹ cân, nằm ngửa, dùng làm nệm phụ có thể chọn mỏng hơn. Một tấm nệm dày hơn không tự động tốt hơn: điều quan trọng là độ dày của phần nào, lõi đỡ hay lớp vỏ chần bông. Và độ dày còn phải khớp với chiều cao giường, ga chun, và khả năng khiêng vác của nhà bạn.

Bài này đưa ra các khoảng độ dày theo từng loại, cách tự kiểm xem độ dày có đủ không, những tình huống nên mỏng và nên dày, và những rắc rối thực tế mà độ dày gây ra sau khi mua.

Khoảng độ dày thường gặp theo từng loại nệm

Các khoảng dưới đây là mức thường thấy trên thị trường, không phải tiêu chuẩn. Dùng chúng như mốc tham khảo để biết một tấm nệm cụ thể đang mỏng hay dày so với loại của nó.

Loại nệmĐộ dày thường gặpGhi chú
Bông épKhoảng 5–10 cmDưới khoảng 5 cm thường chỉ dùng làm nệm phụ hoặc trải sàn
Cao su nguyên khốiKhoảng 10–20 cmCao su đặc nên mỏng hơn vẫn đỡ được; dày hơn chủ yếu thêm độ êm sâu
Foam, cao su nonKhoảng 10–25 cmPhụ thuộc mạnh vào mật độ; foam mật độ thấp cần dày hơn để không chạm đáy
Memory foam nhiều lớpKhoảng 20–30 cmThường có lớp nền foam cứng bên dưới lớp memory foam
Lò xo túiKhoảng 18–30 cmGồm chiều cao lò xo cộng lớp tiện nghi và vỏ
Hybrid, nệm có lớp gối phía trênKhoảng 25–35 cm hoặc hơnNặng, cần giường và ga phù hợp
TopperKhoảng 3–10 cmĐặt trên nệm có sẵn, không dùng như nệm chính

Đọc bảng theo hàng ngang: so một tấm nệm với các tấm cùng loại, không so chéo. Một tấm cao su 15 cm và một tấm lò xo 15 cm ở hai vị trí rất khác nhau trong khoảng của chúng.

Vì sao "dày hơn" không đồng nghĩa "tốt hơn"

Độ dày tổng là con số dễ đo, dễ quảng cáo, nên hay được đẩy lên. Nhưng một tấm nệm 30 cm có thể gồm lõi lò xo 14 cm, vài lớp foam mỏng mật độ thấp, và một lớp vỏ chần bông phồng dày nhiều phân. Phần bông chần trông đầy đặn lúc mới mua nhưng là phần xẹp sớm nhất. Sau một năm, tấm nệm có thể vẫn dày gần như cũ nhưng mặt nằm đã lún thành vệt.

Ngược lại, một tấm cao su đặc 15 cm có thể đỡ một người trưởng thành tốt hơn một tấm foam mật độ thấp 25 cm. Lý do là khả năng đỡ phụ thuộc vào việc vật liệu chống lại lực nén thế nào. Vật liệu yếu cần dày để người nằm không chạm đáy; vật liệu chắc thì không cần nhiều độ dày như vậy.

Nệm dày còn có những cái giá mà người mua ít tính: nặng hơn nên khó xoay, khó dựng phơi; mặt nằm cao hơn nên người lớn tuổi và trẻ nhỏ leo lên xuống khó; cần ga chun sâu hơn, nhiều khi phải mua bộ ga mới; và khó đưa qua cầu thang hẹp. Vì vậy câu hỏi hữu ích hơn "dày bao nhiêu" là "độ dày đó gồm những lớp gì, mỗi lớp dày bao nhiêu". Phần cấu tạo các lớp được giải thích chi tiết ở bài về cấu tạo nệm.

Độ dày theo người nằm và cách dùng

Người nhẹ cân, nằm ngửa. Lực đè thấp nên nệm mỏng trong khoảng của loại đó thường đủ. Ví dụ cao su khoảng 10 cm, bông ép khoảng 9 đến 10 cm vẫn đỡ tốt.

Người nặng cân. Cần vật liệu chắc và độ dày ở phía trên của khoảng, nhất là với foam và memory foam, để hông không nén chạm lớp đáy. Với lò xo, chú ý cỡ dây và viền gia cố quan trọng ngang độ dày.

Người nằm nghiêng. Vai và hông cần lún sâu hơn, nên lớp tiện nghi phía trên cần đủ dày. Một tấm nệm cứng mỏng sẽ tì vai; thêm vài phân lớp mềm thường hiệu quả hơn tăng độ dày lõi.

Hai người ngủ chung. Tổng tải lớn hơn và mép được dùng nhiều hơn. Độ dày vừa đủ cộng với viền gia cố quan trọng hơn chọn tấm dày nhất.

Nệm trải sàn, nệm phụ, nệm gấp. Mỏng hơn để dễ gấp cất. Nếu dùng hằng đêm trên sàn cứng, đừng xuống quá mỏng vì sàn không có độ đàn hồi như dát giường.

Người lớn tuổi, người cử động khó. Tính chiều cao mặt nằm tính từ sàn. Mặt nằm ngang khoảng đầu gối khi ngồi giúp đứng lên ngồi xuống dễ hơn. Nệm quá dày trên giường cao gây khó leo, quá mỏng trên sàn gây khó đứng dậy.

Độ dày và nền đặt nệm: giường, phản, sàn

Cùng một tấm nệm, nền đặt bên dưới thay đổi cảm giác độ dày khá nhiều. Đặt trên dát giường gỗ có độ cong đàn hồi nhẹ, nệm mỏng vẫn có cảm giác êm hơn vì dát cũng góp một phần đàn hồi. Đặt trên phản gỗ phẳng cứng hoặc trên sàn gạch, toàn bộ độ êm phải đến từ nệm, nên cùng tấm nệm sẽ cảm giác mỏng và cứng hơn. Người quen ngủ phản thường chọn nệm mỏng; người chuyển từ giường dát sang phản nên tính thêm vài phân.

Nền đặt cũng ảnh hưởng độ dày tối đa hợp lý. Giường có khung cao và vạt đầu giường thấp, đặt nệm quá dày sẽ che mất vạt đầu, gối dễ rơi xuống khe. Giường có viền gỗ bao quanh mặt nệm, như nhiều mẫu giường hộp, cần tính phần nệm nhô lên trên viền: nhô quá ít thì mép gỗ cấn đùi khi ngồi, nhô quá nhiều thì giường mất cân đối và ga khó trải.

Với nệm trải thẳng xuống sàn, độ dày còn liên quan tới độ thoáng. Nệm dày đặt sát sàn khó dựng lên phơi, mặt đáy dễ ẩm trong mùa nồm. Nệm mỏng hơn, hoặc nệm gấp, tiện dựng lên thông gió mỗi sáng. Đó là lý do nhiều phòng trọ và nhà ngủ sàn chuộng nệm mỏng, dù người nằm có thể muốn êm hơn: họ đổi một ít độ êm lấy sự sạch sẽ và gọn gàng.

Tự kiểm xem độ dày có đủ không

Các bước dưới đây làm được ngay tại nhà với nệm đang dùng, hoặc tại nơi bán khi thử nệm mới.

  1. Nằm đúng tư thế ngủ chính ba đến năm phút. Luồn bàn tay xuống dưới hông hoặc vai. Nếu cảm thấy rõ mặt cứng bên dưới, lớp đỡ đã bị nén gần hết, nệm đang mỏng so với bạn.
  2. Ấn mạnh bằng nắm tay ở vùng giữa nệm. Nếu ấn tới sát đáy dễ dàng, vật liệu yếu hoặc quá mỏng.
  3. Đo độ dày thật bằng thước dây. Đo ở giữa cạnh nệm, không đo ở góc có viền phồng. So với độ dày ghi trên giấy; chênh nhiều là dấu hiệu vỏ chần phồng hoặc ghi sai.
  4. Đo chiều cao mặt nằm tính từ sàn. Cộng chiều cao khung giường với độ dày nệm. Ngồi ở mép thử xem chân chạm sàn thoải mái không.
  5. Đo chiều sâu túi ga chun. Túi ga cần sâu hơn độ dày nệm vài phân để ôm xuống mặt đáy. Thiếu là ga bung góc giữa đêm.
  6. Với nệm cũ, đo chỗ lún. Căng một sợi dây ngang mặt nệm, đo khoảng cách từ dây xuống chỗ nằm. Lún sâu vài phân mà không đầy lại là dấu hiệu nệm đã xuống cấp, không phải do thiếu độ dày.

Kết quả những bước này cho bạn biết vấn đề nằm ở độ dày, độ cứng hay sự xuống cấp. Ba nguyên nhân khác nhau dẫn tới ba cách giải khác nhau: đổi nệm dày hơn, thêm topper, hoặc thay nệm.

Ví dụ giả định: một nhà, ba nhu cầu độ dày khác nhau

Ví dụ giả định: một gia đình ba thế hệ cần nệm cho ba phòng. Phòng ông bà dùng giường gỗ khá cao; ông khoảng 60 kg nằm ngửa, bà hay đau gối. Phòng vợ chồng trẻ dùng giường thấp, chồng khoảng 80 kg, vợ nằm nghiêng. Phòng con trai mười tuổi dùng giường tầng.

Với ông bà, giường đã cao nên nệm không cần dày; một tấm cao su chắc vừa dày khoảng 10 cm giữ mặt nằm ở tầm đầu gối, bà ngồi xuống đứng lên dễ. Với vợ chồng trẻ, giường thấp cho phép dùng nệm lò xo túi dày khoảng 25 cm có lớp tiện nghi đủ cho người vợ nằm nghiêng, lõi đỡ được người chồng. Với con trai ở giường tầng, nệm cần mỏng hơn để thanh chắn an toàn vẫn cao hơn mặt nệm một khoảng đáng kể theo hướng dẫn của giường; một tấm bông ép hoặc foam chắc dày khoảng 9 đến 10 cm là phù hợp.

Cùng một ngôi nhà, ba độ dày khác nhau, và không phòng nào cần tấm dày nhất. Mỗi lựa chọn xuất phát từ người nằm, chiều cao giường và an toàn, không từ con số quảng cáo. Các con số trong ví dụ chỉ để minh hoạ cách suy nghĩ.

Lỗi hay gặp liên quan đến độ dày

Mua nệm dày cho giường tầng hoặc giường có thanh chắn. Nệm dày làm mặt nằm cao lên, thanh chắn còn lại thấp, giảm tác dụng chống ngã. Luôn kiểm tra độ dày nệm tối đa mà nhà sản xuất giường cho phép.

Dùng lại ga cũ cho nệm mới dày hơn. Ga chun quá nông bung góc, ga phủ không trùm hết mép. Đo nệm mới trước khi mua ga, cộng thêm vài phân dự phòng.

Không tính lối vào nhà. Nệm lò xo, hybrid dày không gập được, cầu thang hẹp, thang máy nhỏ là chuyện thường ở chung cư và nhà phố. Đo trước, hoặc chọn loại giao dạng cuộn.

Kê nệm dày lên giường đã cao. Mặt nằm quá cao khiến người lớn tuổi và trẻ nhỏ khó lên xuống, tăng nguy cơ ngã khi dậy ban đêm. Có thể chọn nệm mỏng hơn hoặc hạ khung giường.

Thêm topper dày lên nệm đã lún. Topper đi theo hình dạng nệm bên dưới. Nệm lún thì topper cũng lún, chỉ trì hoãn việc thay nệm và làm mặt nằm cao thêm.

Câu hỏi thường gặp

Nệm 10 cm có đủ cho người lớn không?

Với cao su chắc hoặc bông ép ép chặt, 10 cm thường đủ cho người trưởng thành cân nặng trung bình nằm ngửa. Với foam mật độ thấp, 10 cm có thể chưa đủ cho người nặng cân hoặc người nằm nghiêng. Kiểm tra bằng cách luồn tay dưới hông khi nằm.

Nệm lò xo dưới 20 cm có ổn không?

Có những tấm lò xo mỏng dùng tốt, nhưng độ dày thấp thường đồng nghĩa lò xo thấp và lớp tiện nghi mỏng. Người nằm nghiêng có thể thấy tì vai. Hỏi chiều cao cuộn lò xo và độ dày lớp phía trên thay vì chỉ nhìn tổng độ dày.

Nệm có lớp gối phía trên có phải dày hơn là tốt hơn không?

Lớp gối phía trên, may thêm một lớp đệm phồng trên mặt nệm, làm mặt nằm êm hơn lúc đầu và tăng độ dày tổng. Nhưng đây cũng thường là phần xẹp sớm nhất. Hỏi vật liệu bên trong lớp đó; foam mật độ tốt hoặc cao su bền hơn bông chần.

Nệm cho trẻ em nên dày bao nhiêu?

Với trẻ sơ sinh, nệm nôi theo khuyến cáo ngủ an toàn phổ biến là mỏng, phẳng, chắc và vừa khít khung nôi, không đệm thêm lớp mềm. Với trẻ lớn ở giường thường, độ dày tuỳ loại nệm như người lớn nhẹ cân; ở giường tầng, theo giới hạn của nhà sản xuất giường.

Nệm dày có nóng hơn nệm mỏng không?

Độ dày tự nó ảnh hưởng ít hơn vật liệu. Nệm lò xo dày vẫn thoáng nhờ lõi rỗng; memory foam dày thì giữ nhiệt nhiều hơn memory foam mỏng. Khi lo về nóng, quan tâm lớp trên cùng làm bằng gì trước khi quan tâm độ dày.

Có nên chồng hai tấm nệm mỏng thành một tấm dày không?

Có thể dùng tạm, nhưng hai tấm rời dễ trượt lên nhau, mép không đều, và tấm dưới khó thông khí. Nếu cần tăng độ êm, một topper đúng kích thước đặt trên nệm chính thường gọn và ổn định hơn.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.