Ở Việt Nam, nệm thường bán theo bề ngang từ khoảng 0,8 m đến 2 m, chiều dài phổ biến là 2 m, kèm một số cỡ dài hơn cho người cao. Hai cỡ hay được cân nhắc nhất cho vợ chồng là 1m6 và 1m8: 1m6 thường đủ cho hai người lớn vóc trung bình, 1m8 thoải mái hơn khi một người to cao, hay trở mình, hoặc con nhỏ thường sang nằm cùng. Nhưng cỡ đúng nhất luôn là cỡ khớp với lòng giường thực tế của bạn, không phải con số tròn.
Lỗi kích thước là lỗi khó sửa nhất khi mua nệm. Nệm rộng hơn lòng giường vài phân thì không đặt vào được hoặc bị cong mép; hẹp hơn vài phân thì để lại khe hở, gối và chăn rơi vào đó, trẻ nhỏ có thể bị kẹt chân tay. Phần lớn nơi bán không coi đây là lỗi sản phẩm nên đổi trả thường mất phí.
Bài này liệt kê các cỡ thường gặp, hướng dẫn đo giường, cách chọn bề ngang theo người nằm, chiều dài theo chiều cao, cách tính độ dày với chiều cao giường và những tình huống hay gặp như phòng trọ nhỏ hay ghép hai nệm.
Các cỡ nệm thường gặp và ai hay dùng
Bảng dưới là các cỡ thường gặp trên thị trường, tính theo bề ngang × chiều dài. Mỗi nơi sản xuất có thể lệch vài phân và có thêm cỡ riêng, nên luôn hỏi kích thước chính xác của mẫu bạn chọn.
| Cỡ thường gọi | Kích thước thường gặp | Hay dùng cho | Lưu ý |
|---|---|---|---|
| 0,8 m – 1 m | 0,8 × 1,9 m hoặc 1 × 2 m | Một người, trẻ lớn, giường tầng, phòng trọ rất nhỏ | Người lớn hay trở mình có thể thấy chật |
| 1,2 m | 1,2 × 2 m | Một người lớn thoải mái, phòng trọ, phòng khách | Hai người lớn nằm sẽ chật |
| 1,4 m | 1,4 × 2 m | Một người thích rộng, cặp đôi vóc nhỏ | Hai người lớn vóc trung bình thường thấy sát nhau |
| 1,6 m | 1,6 × 2 m | Vợ chồng vóc trung bình | Cỡ phổ biến nhất cho phòng ngủ chính |
| 1,8 m | 1,8 × 2 m | Vợ chồng có người to cao, con nhỏ hay sang nằm | Cần phòng đủ rộng để còn lối đi hai bên |
| 2 m trở lên | 2 × 2 m hoặc 2 × 2,2 m | Gia đình ngủ chung với con, người rất cao | Khó vận chuyển, ga và chăn ít lựa chọn hơn |
Đơn vị gọi tắt như "nệm một mét sáu" quen thuộc nhưng không cho biết chiều dài; có mẫu dài 1,9 m, có mẫu 2 m. Khi so giá giữa các nơi, so cùng kích thước đầy đủ cả hai chiều, và cùng độ dày.
Đo lòng giường đúng cách
Đo kỹ một lần mất mười phút và tránh được lỗi khó sửa nhất. Dùng thước dây hoặc thước cuộn, đo bên trong khung, nơi nệm thật sự nằm.
- Dọn trống mặt giường, bỏ nệm cũ ra nếu có, để thấy rõ thành và mặt phản.
- Đo bề ngang ở ba vị trí: đầu giường, giữa giường, chân giường, đo từ mép trong thành bên này sang mép trong thành bên kia. Ghi cả ba số.
- Đo chiều dài ở hai bên: từ mép trong vách đầu giường đến mép trong thành chân giường, đo sát hai bên mép.
- Lấy số nhỏ nhất của mỗi chiều làm kích thước lòng giường. Khung đóng tay hay giường lâu năm thường lệch vài phân giữa các vị trí.
- Đo chiều cao thành: từ mặt phản hoặc mặt nan lên đến mép trên của thành bên và thành chân giường.
- Kiểm tra mặt phản: nan có đều không, khoảng cách giữa các nan bao nhiêu, có thanh đỡ giữa cho giường rộng không.
- Chụp ảnh giường và các số đo, gửi cho người bán khi hỏi mẫu.
Nệm vừa nhất khi nó nhỏ hơn lòng giường một chút, khoảng một hai phân mỗi chiều, đủ để đặt vào và trải ga mà không phải ép. Nếu lòng giường lệch hẳn cỡ chuẩn, chẳng hạn 1,55 m, hỏi nơi bán có cắt theo kích thước không, và đọc kỹ chính sách đổi trả với hàng cắt riêng, vì thường không được đổi.
Chọn bề ngang theo người nằm
Một người lớn. Cỡ 1,2 m thường đủ thoải mái cho một người lớn trở mình tự do. Cỡ 1 m vẫn dùng được cho người vóc nhỏ hoặc phòng chật, nhưng người hay dang tay chân khi ngủ có thể thấy chật.
Hai người lớn vóc trung bình. Cỡ 1,6 m là lựa chọn phổ biến. Thử cách đơn giản: hai người nằm ngửa, tay đặt lên bụng, khuỷu tay không chạm nhau là có không gian riêng tạm đủ.
Hai người, có một người to cao hoặc ngủ không yên. Cỡ 1,8 m giúp giảm việc bị đánh thức khi người kia trở mình, nhất là khi kết hợp với nệm ít truyền chuyển động.
Cha mẹ ngủ cùng con nhỏ. Trẻ ngủ chung giường thường chiếm nhiều chỗ hơn kích thước cơ thể vì hay xoay ngang. Cỡ 1,8 m đến 2 m thoải mái hơn. Với trẻ sơ sinh, khuyến cáo ngủ an toàn phổ biến là cho bé ngủ trên mặt phẳng riêng như nôi cũi đặt cạnh giường bố mẹ, không nằm chung nệm người lớn.
Người lớn tuổi. Bề ngang vừa phải giúp dễ với tay ra mép khi ngồi dậy; cỡ quá rộng cho một người già nằm một mình đôi khi bất tiện hơn. Ưu tiên mép chắc và độ cao phù hợp hơn là bề rộng.
Chiều dài nệm và người cao
Chiều dài 2 m đủ cho phần lớn người Việt, nhưng không phải mọi người. Kinh nghiệm thường dùng là nệm nên dài hơn chiều cao người nằm khoảng 15 đến 20 phân, để khi nằm thẳng, gối kê đầu và bàn chân vẫn nằm trọn trên nệm, không thò ra mép hay chạm thành chân giường.
Người cao trên khoảng 1,8 m nằm nệm dài 2 m có thể thấy bàn chân chạm thành giường, nhất là khi ngủ với gối cao hoặc nằm hơi chếch. Lúc đó có ba hướng: chọn nệm dài 2,2 m với khung giường tương ứng, chọn giường không có thành chân để bàn chân có thể thò ra, hoặc chấp nhận nằm chéo trên nệm rộng.
Cẩn thận với nệm dài 1,9 m. Cỡ này hay gặp ở nệm đơn, nệm cho trẻ hoặc một số giường cũ. Người lớn cao trung bình nằm vẫn được nhưng ít dư. Nếu mua nệm dài 1,9 m cho giường lòng 2 m, khoảng hở 10 phân ở chân giường làm chăn tụt và trông không gọn.
Khi mua nệm cho trẻ đang lớn, nghĩ trước vài năm. Trẻ mười tuổi có thể cao thêm đáng kể trong giai đoạn dậy thì, nên nệm dài 2 m dùng được lâu hơn nệm 1,9 m, dù ban đầu trông thừa.
Độ dày nệm, chiều cao giường và ga trải
Kích thước không chỉ có hai chiều. Độ dày nệm quyết định độ cao mặt nằm so với sàn và so với thành giường, cũng như cỡ ga bạn cần mua.
Với giường có thành bao, mặt nệm nên cao hơn mép thành một chút để ga ôm được và khi ngồi dậy không bị thành cấn vào đùi. Nệm quá mỏng chìm trong lòng giường, khó trải ga, khó dọn; nệm quá dày nhô cao, nhìn mất cân đối và người lớn tuổi có thể thấy giường bỗng cao quá. Lấy số đo chiều cao thành ở bước đo giường để so với độ dày các mẫu nệm.
Chiều cao mặt nằm so với sàn cũng quan trọng với người lớn tuổi: khi ngồi mép, chân đặt phẳng trên sàn, đầu gối ngang hoặc hơi thấp hơn hông là tư thế dễ đứng dậy nhất. Nếu đổi từ nệm mỏng sang nệm dày, độ cao này thay đổi đáng kể.
Về ga: ga bọc chun phải có thành sâu hơn độ dày nệm vài phân mới bọc kín được. Đổi sang nệm dày hơn thường có nghĩa bộ ga cũ không còn vừa. Khi tính ngân sách mua nệm, cộng sẵn ít nhất một bộ ga mới nếu độ dày thay đổi nhiều.
Những tình huống kích thước hay gặp
Phòng trọ khoảng mười hai mét vuông. Nệm 1,2 m hoặc 1,4 m để còn lối đi và chỗ cho bàn học, tủ quần áo. Đặt nệm sát tường một bên để tiết kiệm diện tích. Nếu ngủ hai người trong phòng nhỏ, 1,4 m là mức tối thiểu chấp nhận được, nhưng chú ý độ thông thoáng vì nệm sát tường dễ ẩm mặt bên.
Ghép hai nệm đơn thành một giường lớn. Hai nệm 0,9 m hoặc 1 m đặt cạnh nhau trên khung 1,8 m hoặc 2 m cho phép hai người chọn hai độ cứng khác nhau và giảm truyền rung. Đổi lại sẽ có đường khe ở giữa; dùng tấm phủ chung hoặc dải nối khe để đỡ vướng. Hai nệm nên cùng độ dày.
Giường đóng theo kích thước lẻ. Giường gỗ cũ hoặc đóng tay có thể có lòng 1,55 m hay 1,75 m. Hoặc đặt nệm cắt theo kích thước, hoặc chọn nệm cỡ chuẩn nhỏ hơn và chèn thanh gỗ hay tấm lót ở khe, hoặc thay khung giường. Hỏi kỹ chính sách đổi trả với hàng cắt riêng.
Giường tầng cho hai con. Nệm giường tầng thường cỡ 0,8 đến 1 m. Với tầng trên, độ dày nệm phải để thanh chắn an toàn cao hơn mặt nệm một khoảng đủ lớn theo hướng dẫn của nhà sản xuất giường; nệm quá dày làm thanh chắn mất tác dụng.
Những lỗi kích thước hay gặp
Các lỗi dưới đây đều tránh được bằng một lần đo kỹ và một câu hỏi rõ ràng với người bán.
- Đo nệm cũ thay vì đo giường. Nệm cũ có thể đã lệch cỡ, phồng hoặc xẹp sau nhiều năm. Luôn đo lòng giường.
- Chỉ đo một điểm. Khung lệch vài phân giữa đầu và chân giường là chuyện thường; đo ba điểm, lấy số nhỏ nhất.
- Quên độ dày. Bề ngang và chiều dài đúng nhưng nệm quá dày làm mặt nằm cao hơn thành giường nhiều, ga cũ không vừa.
- Chọn cỡ theo phòng thay vì theo người. Phòng rộng không có nghĩa cần nệm 2 m; người nằm và lối đi mới là căn cứ.
- Không tính lối đi. Nên chừa khoảng trống quanh giường đủ để đi lại, mở cửa tủ và trải ga. Nệm 1,8 m trong phòng hẹp khiến việc trải ga hằng tuần thành cực hình.
- Không hỏi dung sai. Hỏi người bán nệm có thể lệch bao nhiêu so với kích thước ghi, nhất là nệm cuộn khi mới nở.
Nếu phân vân giữa hai cỡ, thử bằng cách dán băng dính giấy lên sàn phòng theo kích thước nệm định mua, rồi đi lại quanh đó vài ngày. Cách làm này cho cảm giác thật về không gian còn lại tốt hơn mọi bản vẽ.
Câu hỏi thường gặp
Nệm 1m6 có đủ cho hai vợ chồng và một con nhỏ không?
Với con dưới ba bốn tuổi thỉnh thoảng sang nằm cùng thì tạm được, nhưng thường chật nếu con ngủ cùng mỗi đêm. Nếu gia đình định ngủ chung lâu dài, 1,8 m hoặc ghép thêm một nệm đơn bên cạnh sẽ thoải mái hơn. Trẻ sơ sinh nên ngủ trên nôi cũi riêng.
Nệm nhỏ hơn lòng giường bao nhiêu thì chấp nhận được?
Khoảng một đến hai phân mỗi chiều là vừa. Khe hở lớn hơn làm nệm xê dịch, chăn gối rơi vào khe và có thể không an toàn cho trẻ nhỏ. Nếu khe quá lớn, có thể chèn thanh gỗ hoặc dùng tấm lót kín khe.
Có nên mua nệm cắt theo kích thước giường cũ không?
Nên khi giường còn tốt và lòng giường lệch hẳn cỡ chuẩn. Lưu ý hàng cắt riêng thường không được đổi trả và có thể mất ngủ thử, nên đo thật kỹ và xác nhận số đo bằng văn bản với người bán trước khi đặt.
Chiều dài 1m9 và 2m khác nhau nhiều không?
Mười phân nghe ít nhưng với người cao trên khoảng 1,75 m thì dễ cảm nhận, nhất là khi kê gối cao. Nệm 1,9 m cũng làm lệch cỡ với khung giường dài 2 m. Người lớn nên ưu tiên 2 m nếu không có lý do đặc biệt.
Mua ga cho nệm mới cần lưu ý kích thước gì?
Ngoài bề ngang và chiều dài, quan trọng nhất là độ sâu thành ga phải lớn hơn độ dày nệm vài phân. Nệm dày cộng thêm tấm bảo vệ hoặc tấm phủ trên thì cần ga thành sâu hơn nữa.
Phòng nhỏ có nên đặt nệm thẳng xuống sàn cho rộng không?
Được nếu sàn khô, thoáng và bạn dựng nệm lên phơi định kỳ. Ở nơi nồm ẩm, nệm đặt thẳng xuống sàn dễ ẩm mặt dưới. Một tấm phản thấp có khe thoáng là giải pháp dung hoà, và nên hỏi xem bảo hành của nệm có yêu cầu nền cụ thể không.