SieuNem.comSiêu Nệm
Ngủ ngon theo mùa và khí hậu Việt Nam

Chăn mùa đông loại nào ấm: ruột lông vũ, bông xơ, lông cừu và cách chọn độ dày

So sánh ruột chăn lông vũ, bông xơ, lông cừu, chăn lông cho mùa rét miền Bắc: độ ấm, độ nặng, giặt giữ, người dị ứng, và cách chọn theo phòng ngủ.

A thick white duvet being shaken out over a bed by two hands, soft winter morning light through a fogged window, Hanoi apartment, motion blur, medium shot from the side

Cùng một độ ấm, ruột chăn lông vũ (nhất là loại nhiều lông tơ) thường nhẹ và xốp nhất, ruột bông xơ tổng hợp rẻ hơn, dễ giặt nhưng nặng hơn để đạt cùng độ ấm, còn ruột lông cừu ấm vừa phải và điều hoà ẩm tốt, hợp với người hay ra mồ hôi khi đắp chăn dày. Chăn lông, chăn nỉ dệt ấm nhanh nhưng không phồng nên thường để đắp thêm hơn là làm chăn chính trong những đêm rét đậm.

Chăn ấm hay không phụ thuộc vào lượng không khí nó giữ lại quanh người, không phải độ nặng. Một chiếc chăn bông xơ dày nặng mà đã bẹp lép sau vài mùa có thể kém ấm hơn một chiếc lông vũ mỏng nhẹ còn phồng tốt. Vì vậy cách chọn đúng là xem độ phồng, độ hồi, cách chần và vỏ chăn, chứ đừng chỉ ước lượng bằng cân nặng.

Bài tập trung vào rét miền Bắc và vùng núi, nơi chăn mùa đông thật sự cần thiết; miền Nam và phần lớn miền Trung chỉ cần chăn mỏng cho những đêm se lạnh. Không nêu tên hãng, mọi con số dưới đây là khoảng thường gặp hoặc ví dụ giả định.

Chăn giữ ấm bằng cách nào

Cơ thể là nguồn nhiệt; chăn không tạo ra hơi ấm mà chỉ giữ lại. Ruột chăn giữ ấm bằng cách nhốt thật nhiều lớp không khí đứng yên giữa các sợi, vì không khí đứng yên dẫn nhiệt rất kém. Ruột càng phồng, càng nhiều khoảng không, càng giữ ấm tốt. Khi ruột bị nén bẹp vì ẩm, vì bụi hoặc vì sợi đã gãy, khả năng giữ ấm giảm theo.

Lông tơ của vịt, ngỗng có cấu trúc dạng chùm mảnh, xoè ra như bông cúc nhỏ, nên giữ được rất nhiều không khí trên một khối lượng nhỏ. Lông vũ có cuống thì cứng hơn, kém phồng hơn. Vì vậy ruột lông vũ thường ghi tỉ lệ dạng 90/10 hay 80/20, nghĩa là phần lông tơ và phần lông có cuống; lông tơ càng nhiều thì càng nhẹ, ấm và thường càng đắt. Một số nơi còn ghi chỉ số độ nở, con số này càng cao thì cùng khối lượng càng phồng.

Bông xơ tổng hợp (sợi polyester rỗng, sợi micro) bắt chước nguyên lý đó bằng sợi nhân tạo xoăn hoặc rỗng ruột. Nó giữ ấm khá, không sợ ẩm như lông vũ, giặt máy dễ, nhưng sau nhiều lần giặt và nén, sợi xẹp dần. Lông cừu giữ ấm vừa phải và có khả năng hút rồi nhả hơi ẩm, nên ít bí khi đắp lâu.

So sánh các loại ruột chăn mùa đông

Các mức so sánh tương đối giữa những sản phẩm chất lượng trung bình mỗi loại. Hàng kém chất lượng ở loại nào cũng có thể vón cục, xẹp nhanh.

Ruột chănĐộ ấm trên cùng khối lượngCảm giácGiặt và giữLưu ý
Lông vũ nhiều lông tơCao nhấtNhẹ, xốp, ôm ngườiGiặt khó, phải sấy khô kỹ; sợ ẩm, nồmNgười dị ứng lông nên thận trọng; chọn vỏ dệt mịn chống xù lông
Lông vũ nhiều lông có cuốngKháNặng hơn, có thể thấy cuống lôngNhư trênCuống lông có thể đâm qua vỏ nếu vỏ dệt thưa
Bông xơ tổng hợpTrung bìnhNặng hơn để đạt cùng độ ấmGiặt máy dễ, khô nhanh hơnXẹp dần qua nhiều lần giặt; hợp nhà có trẻ nhỏ cần giặt thường
Lông cừuTrung bìnhẤm dịu, ít bíGiặt nhẹ hoặc giặt khô theo hướng dẫn; dễ co nếu giặt saiHợp người hay ra mồ hôi khi đắp; có người thấy ngứa
Chăn lông, chăn nỉ dệtThấp đến trung bìnhẤm nhanh lúc mới đắp, ít phồngGiặt máy được, nặng khi ướtThường dùng đắp thêm hoặc cho đêm se lạnh

Nếu nhà bạn ở vùng nồm ẩm và không có máy sấy, ruột bông xơ hoặc chăn có thể tháo vỏ giặt riêng thường dễ sống hơn ruột lông vũ. Lông vũ rất ấm nhưng đòi hỏi phơi sấy khô thật kỹ; giặt xong mà khô không hết là bốc mùi và vón cục.

Cách tự thử ruột chăn khi mua

Ở cửa hàng, đừng ngại mở chăn ra khỏi túi. Mua qua mạng thì hỏi rõ thành phần ruột, khối lượng ruột và cách chần, xem ảnh chụp thật.

  1. Ép chăn xuống bằng hai tay rồi buông: ruột tốt phồng trở lại khá nhanh. Hồi chậm, để lại vết lõm là ruột đã nén lâu hoặc chất lượng thấp.
  2. Sờ dọc các ô chần: ruột phân bố đều, không có ô rỗng, ô dồn cục. Chăn chần ô nhỏ giữ ruột không dồn về một phía, nhưng đường chần đi xuyên thì tại đường chần ít ấm hơn.
  3. Vuốt mặt vỏ: vỏ ruột lông vũ cần dệt mịn, dày sợi để lông không chui ra. Thấy sợi lông ló qua vỏ ngay khi mới mua là dấu hiệu không tốt.
  4. Ngửi: ruột lông vũ xử lý chưa sạch có mùi hôi đặc trưng, nhất là khi bị ấm lên trong tay. Bông xơ có mùi hoá chất gắt cũng nên tránh.
  5. Ướm kích thước với giường và người đắp: chăn nên rộng hơn mặt nệm để phủ được hai bên khi trở mình. Hai người đắp chung một chăn quá vừa vặn sẽ kéo qua kéo lại, hở lưng cả đêm.
  6. Hỏi về vỏ chăn và cách giặt: vỏ bọc rời giặt được giúp giữ ruột sạch lâu, ruột chỉ cần giặt thưa.

Chọn chăn theo người nằm và theo phòng ngủ

Người lớn tuổi. Nên ưu tiên chăn nhẹ mà ấm, vì chăn nặng đè lên ngực, khó trở mình và khó kéo lên khi tỉnh giấc. Ruột lông vũ hoặc bông xơ loại phồng nhẹ hợp hơn chăn bông ép nặng. Phòng cần thêm chăn mỏng để đắp thêm thay vì một chăn rất dày.

Trẻ nhỏ đã ngủ giường riêng. Chăn nhẹ, kích thước nhỏ vừa người, giặt máy được; trẻ hay đạp chăn nên mặc ấm bên trong để không phụ thuộc vào chăn. Trẻ dưới một tuổi không nên đắp chăn dày, chăn lông trong nôi; giữ ấm bằng quần áo, túi ngủ phù hợp lứa tuổi và hỏi bác sĩ nhi khi phân vân.

Người hay ra mồ hôi khi đắp chăn. Lông cừu hoặc ruột lông vũ với vỏ cotton thoáng ít bí hơn bông xơ dày và vỏ polyester. Nên đắp vừa đủ ấm thay vì quá ấm rồi bỏ chăn ra giữa đêm.

Người có dị ứng. Người dị ứng thường do mạt bụi tích trong chăn hơn là bản thân lông vũ. Ruột bông xơ giặt nóng được hoặc ruột lông vũ đã xử lý sạch kèm vỏ dệt mịn đều có thể dùng; quan trọng là giặt và phơi khô định kỳ. Nếu triệu chứng rõ, hỏi bác sĩ.

Phòng ngủ tầng trệt, gạch lạnh, gió lùa. Ngoài chăn, nên lo lớp dưới: tấm lót nệm dày hơn hoặc topper giữ ấm, vì lạnh từ dưới lên khiến nhiều người đắp chăn dày vẫn rét lưng. Chặn khe cửa gió lùa hiệu quả không kém đổi chăn.

Vùng núi phía Bắc, rét đậm kéo dài. Thường cần hai lớp: một chăn chính ấm và một chăn mỏng hoặc chăn lông đắp thêm cho những đêm rét nhất, thay vì một chăn cực dày dùng cả mùa.

Miền Trung, miền Nam và Tây Nguyên có cần chăn đông không

Chăn mùa đông dày đúng nghĩa chủ yếu cần ở miền Bắc, vùng núi phía Bắc và vùng cao, nơi có những đợt rét đậm, rét hại kéo dài. Ở các tỉnh Bắc Trung Bộ, mùa đông vẫn có những đợt lạnh ẩm do gió mùa tràn xuống, nhiều nhà vẫn dùng một chăn ấm vừa phải, nhưng hiếm khi cần tới loại dày nhất.

Ở miền Nam và phần lớn duyên hải Nam Trung Bộ, những đêm "se lạnh" cuối năm thường chỉ cần chăn hè dày hơn một chút hoặc chăn chần bông mỏng. Mua chăn lông vũ dày cho khí hậu này thường dùng được rất ít đêm, phần còn lại của năm chỉ chiếm chỗ trong tủ và dễ bị ẩm. Tây Nguyên và các vùng cao như cao nguyên Lâm Viên thì khác: đêm lạnh quanh năm, chăn ấm vừa phải dùng gần như cả năm, nên đầu tư một chiếc chăn tốt, dễ giặt là hợp lý.

Một cách nghĩ đơn giản: tính số đêm trong năm bạn thật sự cần chăn dày. Vài chục đêm thì chọn ruột bông xơ hoặc chăn lông đắp thêm, rẻ và dễ cất. Vài tháng liền thì ruột tốt hơn, phồng nhẹ, vỏ rời giặt được sẽ đáng tiền hơn. Cũng nhớ rằng nơi càng ẩm, chăn càng cần được cất khô; một chiếc chăn ấm mà mốc sau mùa mưa thì không còn rẻ nữa.

Ví dụ giả định: một gia đình ba thế hệ ở miền Bắc

Một gia đình ở ngoại thành Hà Nội có ông bà ngoài bảy mươi, hai vợ chồng và một bé tám tuổi. Mùa đông năm trước, ông bà đắp chăn bông ép cũ nặng, than khó trở mình và vẫn lạnh lưng; bé đạp tung chăn bông xơ to quá khổ; hai vợ chồng đắp chung một chăn lông vũ đẹp nhưng sau mùa nồm có mùi.

Năm nay họ sắp xếp lại. Ông bà mỗi người một chăn bông xơ phồng nhẹ vừa giường, thêm một tấm lót giữ ấm trên nệm vì nằm tầng trệt sàn gạch. Bé có chăn nhỏ vừa người, giặt máy được, mặc bộ ngủ dày hơn bên trong. Chiếc chăn lông vũ được giặt, sấy khô thật kỹ ở tiệm giặt có máy sấy, thay vỏ bọc rời giặt riêng, và khi nồm thì phòng đóng cửa có hút ẩm.

Chi phí không lớn vì chỉ thay đúng chỗ, và mỗi người được một chiếc chăn hợp cơ thể mình thay vì cả nhà dùng chung một kiểu. Ví dụ giả định này cho thấy chọn chăn mùa đông nên bắt đầu từ người nằm và căn phòng, không phải từ tấm chăn đắt nhất.

Giặt, phơi, cất chăn mùa đông và lỗi hay gặp

Ruột chăn giữ ấm được bao nhiêu mùa phụ thuộc phần lớn vào cách giặt và cất.

  • Dùng vỏ chăn rời và giặt vỏ thường xuyên; ruột chỉ cần giặt một hai lần mỗi mùa, hoặc khi bẩn.
  • Ruột lông vũ: giặt nhẹ bằng nước mát, chất giặt dịu, sấy nhiệt thấp với vài quả bóng sấy để đánh tơi, sấy tới khi thật khô bên trong. Lông vũ còn ẩm là vón cục và có mùi.
  • Ruột bông xơ: giặt máy theo hướng dẫn, phơi nắng nhẹ, đập cho tơi khi khô.
  • Lông cừu: làm đúng nhãn; nước nóng và vắt mạnh dễ làm co, bết.
  • Cất cuối mùa: chỉ cất khi đã khô hoàn toàn, để trong túi vải thoáng nơi khô ráo. Hút chân không nén chặt ruột lông vũ trong nhiều tháng có thể làm giảm độ phồng.
  • Lỗi hay gặp: phơi chăn vào ngày nồm, cất chăn khi còn hơi ẩm, giặt ruột lông vũ bằng nước nóng và chất tẩy mạnh, đắp chăn quá nặng cho người già.

Chăn ruột đã xẹp hẳn, vón cục không đánh tơi được, hoặc có mùi không hết dù đã giặt sấy khô là lúc nên thay ruột. Vỏ chăn còn tốt có thể giữ lại.

Câu hỏi thường gặp

Chăn lông vũ có nóng quá cho miền Bắc không?

Chăn lông vũ giữ ấm tốt nhưng thường thoáng hơi hơn bông xơ dày, nên ít bí nếu chọn độ dày phù hợp. Những đêm rét đậm nó rất hợp; đầu mùa và cuối mùa có thể quá ấm. Nhiều nhà dùng chăn lông vũ mỏng hơn kèm một chăn đắp thêm để linh hoạt theo nhiệt độ từng đêm.

Chăn càng nặng thì càng ấm phải không?

Không hẳn. Chăn ấm nhờ giữ không khí đứng yên trong ruột. Chăn nặng vì ruột ép chặt hoặc chất liệu đặc có thể giữ ít không khí hơn một chăn nhẹ mà phồng. Chăn quá nặng còn làm người lớn tuổi khó trở mình. Hãy thử độ phồng và độ hồi thay vì chỉ ước lượng bằng cân nặng.

Người dị ứng có dùng chăn lông vũ được không?

Nhiều người dị ứng phản ứng với mạt bụi tích trong chăn hơn là với bản thân lông. Ruột lông vũ đã được làm sạch kỹ, vỏ dệt mịn và giặt định kỳ có thể dùng được với một số người. Nếu từng có phản ứng rõ, chọn ruột bông xơ giặt nóng được sẽ yên tâm hơn và nên hỏi bác sĩ.

Có nên mua chăn hút chân không để tiết kiệm chỗ?

Chăn bán dạng hút chân không là bình thường khi vận chuyển; mở ra để vài ngày cho ruột phồng lại. Cất lâu dài thì nên tránh nén chặt ruột lông vũ nhiều tháng vì có thể làm giảm độ phồng. Ruột bông xơ chịu nén tốt hơn nhưng cũng nên để thoáng một chút trước khi dùng lại.

Một chăn đông dùng được bao nhiêu mùa?

Tuỳ chất liệu và cách giữ. Ruột bông xơ được giặt và cất khô thường dùng tốt vài mùa trước khi xẹp rõ. Ruột lông vũ chất lượng tốt, bọc vỏ rời và tránh ẩm có thể bền hơn nhiều. Dấu hiệu nên thay là ruột xẹp không hồi, vón cục, có mùi khó hết dù đã giặt sấy khô.

Trẻ nhỏ mùa đông nên đắp chăn thế nào?

Với trẻ dưới một tuổi, khuyến cáo ngủ an toàn phổ biến là không đặt chăn dày, gối, thú bông trong nôi; giữ ấm bằng quần áo và túi ngủ phù hợp lứa tuổi. Trẻ lớn hơn dùng chăn nhẹ vừa người, mặc ấm bên trong vì trẻ hay đạp chăn. Sờ gáy và lưng trẻ để biết ấm vừa hay quá nóng.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.